Bài viết khái quát tình hình giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng trọng tài thương mại tại một số trung tâm trọng tài tại Việt Nam. Đồng thời, chỉ ra một số thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam trong việc lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, từ đó đề xuất một số khuyến nghị liên quan.
ThS. Lê Hoàng Trúc Giang, ThS. Nguyễn Trần Minh Khôi,
ThS. Lê Khải Hoàn, ThS. Nguyễn Thúy Đoan
Trường Đại học Ngoại thương
Tóm tắt
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được đánh giá là hiệu quả, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế. Bài viết khái quát tình hình giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng trọng tài thương mại tại một số trung tâm trọng tài tại Việt Nam. Đồng thời, chỉ ra một số thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam trong việc lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, từ đó đề xuất một số khuyến nghị liên quan.
Từ khóa: Giải quyết tranh chấp, trọng tài thương mại, hoạt động thương mại quốc tế
Summary
Dispute resolution through commercial arbitration is widely regarded as an effective mechanism that promotes international trade. This article provides an overview of the current practice of resolving contractual disputes through commercial arbitration at several arbitration centers in Viet Nam. It also identifies key advantages and challenges faced by Vietnamese enterprises in choosing commercial arbitration as a dispute resolution method, thereby proposing several related recommendations.
Keywords: Dispute resolution, commercial arbitration, international trade
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong tiến trình toàn cầu hóa thương mại, những phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên sự bình đẳng, quyền tự quyết của doanh nghiệp, dân chủ, minh bạch, công bằng đang được các quốc gia, các doanh nghiệp, tập đoàn chú trọng lựa chọn. Trong khi hệ thống tòa án quá tải, nhất là tại các thành phố là trung tâm tài chính, kinh tế thì trọng tài thương mại – một trong những phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án – đang là sự lựa chọn của nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình này vẫn đối mặt với nhiều thách thức về thực thi phán quyết, nhận thức doanh nghiệp và cần hoàn thiện cơ chế phối hợp để nâng cao hiệu quả.
TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Về số lượng vụ việc thụ lý
Thống kê của một số trung tâm trọng tài thương mại cho thấy, số lượng vụ việc tranh chấp được các trung tâm trọng tài thụ lý đang có xu hướng gia tăng rõ rệt trong những năm gần đây, phản ánh vai trò ngày càng quan trọng của cơ chế trọng tài thương mại trong việc giải quyết các mâu thuẫn phát sinh từ hoạt động thương mại, đầu tư và hợp đồng dân sự.
Bảng 1: Số vụ tranh chấp thụ lý tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam
| Năm 2020 | Năm 2021 | Năm 2022 | Năm 2023 | Năm 2024 |
|---|---|---|---|---|
| 221 | 270 | 292 | 424 | 475 |
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ Báo cáo thường niên của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (2024)
Bảng 1 cho thấy, trong giai đoạn 2020-2024, số lượng vụ việc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) tiếp nhận có xu hướng tăng. Số liệu thể hiện hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tại VIAC được triển khai ổn định, có sự gia tăng qua từng năm, qua đó cho thấy hiệu quả trong công tác tiếp nhận và xử lý các vụ việc tranh chấp.
Về tính chất các vụ tranh chấp
Trong quá trình phát triển của hoạt động giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng trọng tài thương mại tại Việt Nam, tính chất của các bên tham gia tranh chấp là yếu tố phản ánh rõ nét mức độ hội nhập và mở rộng phạm vi của phương thức giải quyết tranh chấp này. Dữ liệu thống kê của VIAC trong năm 2023 và 2024 cung cấp cái nhìn tổng quát về số lượng tranh chấp trong nước, tranh chấp có yếu tố nước ngoài và tranh chấp có sự tham gia của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Bảng 2).
Bảng 2: Số lượng tranh chấp trong nước, tranh chấp có yếu tố nước ngoài và tranh chấp có sự tham gia của doanh nghiệp FDI tại VIAC năm 2023 và 2024
| Tranh chấp thuần nội địa | Tranh chấp có ít nhất 1 bên là FDI | Tranh chấp có yếu tố nước ngoài | |
|---|---|---|---|
| Năm 2023 | 272 | 73 | 53 |
| Tỷ lệ (%) | 68,4 | 18,3 | 13,3 |
| Năm 2024 | 247 | 128 | 100 |
| Tỷ lệ (%) | 52 | 26,9 | 21,1 |
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ Báo cáo thường niên của VIAC (2023, 2024)
Bảng 2 cho thấy, trong năm 2023 và 2024 có sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu các loại tranh chấp được giải quyết tại VIAC. Cụ thể, số vụ tranh chấp thuần nội địa giảm từ 272 xuống còn 247 vụ, trong khi số vụ có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng từ 73 lên 128 vụ và số vụ có yếu tố nước ngoài tăng từ 53 lên 100 vụ. Sự thay đổi này phản ánh sự dịch chuyển trong thành phần các bên tham gia tranh chấp, khi các vụ việc liên quan đến yếu tố đầu tư và yếu tố nước ngoài có xu hướng chiếm tỷ trọng lớn hơn. Sự gia tăng của các tranh chấp có yếu tố FDI và yếu tố nước ngoài cho thấy, phạm vi hoạt động của VIAC nói riêng và các trung tâm trọng tài nói chung đang được mở rộng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ thương mại quốc tế ngày càng phức tạp và đa dạng. Đồng thời, điều này cũng thể hiện mức độ tin cậy của các doanh nghiệp FDI đối với cơ chế trọng tài thương mại tại Việt Nam.
Về quốc tịch các bên tranh chấp
Bảng 3: Số quốc gia có các bên tham gia giải quyết tranh chấp tại VIAC giai đoạn 2021-2024
| Năm 2021 | Năm 2022 | Năm 2023 | Năm 2024 | |
|---|---|---|---|---|
| Số lượng quốc tịch của các bên tham gia giải quyết tranh chấp | 64 | 64 | 67 | 68 |
| Quốc tịch có số lượng lớn nhất | Trung Quốc | Trung Quốc | Trung Quốc | Singapore |
| Quốc tịch có số lượng lớn thứ hai | Singapore | Singapore | Hàn Quốc | Trung Quốc |
| Quốc tịch có số lượng lớn thứ ba | Hàn Quốc | Nhật Bản | Nhật Bản | Ấn Độ |
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ Báo cáo thường niên của VIAC (2021, 2022, 2023, 2024)
Hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam thời gian qua cho thấy sự mở rộng đáng kể về phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ của các bên tham gia. Bảng 3 cho thấy, phạm vi quốc tịch của các bên tham gia giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại tại Việt Nam ngày càng mở rộng, qua đó phản ánh rõ tính quốc tế hóa của hoạt động trọng tài thương mại của nước ta. Cụ thể, số lượng quốc tịch tăng dần từ 64 trong năm 2021 và 2022 lên 67 vào năm 2023 và đạt 68 vào năm 2024. Sự gia tăng này không chỉ biểu hiện phạm vi mở rộng của các vụ việc tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, mà còn cho thấy năng lực của các trung tâm trọng tài trong việc tiếp nhận, xử lý và điều hành các tranh chấp có yếu tố nước ngoài ngày càng được củng cố và hoàn thiện hơn. Việc nhiều quốc gia khác nhau xuất hiện trong danh sách các bên tham gia thể hiện sự tin tưởng vào khả năng giải quyết tranh chấp minh bạch, chuyên nghiệp và hiệu quả của các trung tâm trọng tài thương mại tại Việt Nam.
Xét về cơ cấu quốc tịch, Trung Quốc và Singapore là 2 quốc gia có số lượng doanh nghiệp tham gia tranh chấp nhiều nhất trong 4 năm qua, luân phiên giữ vị trí dẫn đầu. Trung Quốc chiếm vị trí cao nhất trong 3 năm 2021-2023, sau đó Singapore vươn lên đứng đầu vào năm 2024. Bên cạnh đó, các quốc tịch Hàn Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ thường xuyên nằm trong nhóm 3 quốc gia có tần suất tham gia cao, cho thấy các trung tâm trọng tài tại Việt Nam đã xử lý nhiều vụ việc có yếu tố châu Á, đặc biệt trong các hợp đồng thương mại xuyên biên giới. Việc các doanh nghiệp từ nhiều quốc tịch khác nhau lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Việt Nam thể hiện mức độ tin cậy đối với hệ thống trọng tài thương mại ở Việt Nam, nhất là về quy trình tố tụng, phán quyết và cơ chế công nhận, thi hành phán quyết trọng tài.
Nhìn chung, kết quả thống kê trong giai đoạn 2021-2024 phản ánh vai trò ngày càng nổi bật của trọng tài thương mại Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp có yếu tố quốc tế. Sự gia tăng cả về số lượng quốc tịch và mức độ tham gia của các bên nước ngoài cho thấy, các trung tâm trọng tài Việt Nam không chỉ xử lý các tranh chấp thuần nội địa, mà còn đảm nhiệm hiệu quả các vụ việc đa quốc tịch với yêu cầu pháp lý và nghiệp vụ cao. Đây là minh chứng rõ ràng cho năng lực chuyên môn, tính độc lập và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế của cơ chế trọng tài thương mại tại Việt Nam.
Về các tỉnh/thành phố có vụ việc tranh chấp
Cùng với sự phát triển của hoạt động đầu tư, thương mại tại các địa phương, số lượng vụ việc được giải quyết bằng trọng tài cũng có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực.
Bảng 4: Số tỉnh/thành phố có các bên tham gia giải quyết tranh chấp tại VIAC và tỉnh/thành phố có số lượng tranh chấp lớn nhất giai đoạn 2022-2024
| Năm 2022 | Năm 2023 | Năm 2024 | |
|---|---|---|---|
| Số lượng tỉnh/ thành phố có các bên tham gia giải quyết tranh chấp | 61 | 61 | 43 |
| Tỉnh/thành phố có số lượng lớn nhất | TP. Hồ Chí Minh | TP. Hồ Chí Minh | TP. Hồ Chí Minh |
| Tỉnh/thành phố có số lượng lớn thứ hai | Hà Nội | Hà Nội | Hà Nội |
| Tỉnh/thành phố có số lượng lớn thứ ba | Bình Dương | Đồng Nai | Lâm Đồng |
| Tỉnh/thành phố có số lượng lớn thứ tư | Hải Phòng | Bình Dương | Bình Phước |
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ Báo cáo thường niên của VIAC (2022, 2023, 2024)
Bảng 4 cho thấy, trong giai đoạn 2022-2024, các bên tham gia giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng trọng tài thương mại đến từ nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước, thể hiện sự lan tỏa của cơ chế trọng tài trong đời sống kinh tế. Tuy vậy, số lượng địa phương có bên tham gia tranh chấp có xu hướng giảm, từ 61 tỉnh, thành phố trong 2 năm 2022 và 2023 xuống còn 43 vào năm 2024. Điều này phần nào phản ánh thực tế rằng hoạt động thương mại và các tranh chấp của hoạt động thương mại có tính tập trung cao, chủ yếu diễn ra tại các trung tâm kinh tế lớn, trong khi ở nhiều địa phương khác, mức độ nhận biết và sử dụng phương thức trọng tài thương mại vẫn còn một số hạn chế.
TP. Hồ Chí Minh giữ vị trí dẫn đầu trong cả 3 năm, tiếp theo là Hà Nội, khẳng định vai trò đầu tàu kinh tế và trung tâm pháp lý của 2 thành phố này. Các địa phương trước đây như Bình Dương, Đồng Nai, Lâm Đồng, Hải Phòng và Bình Phước lần lượt nằm trong nhóm có số lượng bên tham gia cao, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của các khu công nghiệp, khu chế xuất và hoạt động đầu tư nước ngoài. Sự tập trung này cho thấy cơ chế trọng tài thương mại được doanh nghiệp tại các vùng kinh tế trọng điểm tin tưởng lựa chọn, đồng thời cũng chỉ ra yêu cầu tăng cường phổ biến và hỗ trợ pháp lý tại các khu vực còn hạn chế trong việc tiếp cận phương thức giải quyết tranh chấp này.
Về lĩnh vực tranh chấp
Về lĩnh vực tranh chấp, các vụ việc được giải quyết bằng trọng tài thương mại tại Việt Nam những năm gần đây phản ánh rõ sự đa dạng trong hoạt động kinh doanh và đầu tư. Tranh chấp không chỉ phát sinh trong các hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ mà còn xuất hiện ngày càng nhiều trong các lĩnh vực xây dựng, tài chính, bảo hiểm, vận tải và bất động sản.
Bảng 5: Cơ cấu lĩnh vực tranh chấp của các vụ việc ở VIAC giai đoạn 2021-2024
Đơn vị: %
| Năm 2021 | Năm 2022 | Năm 2023 | Năm 2024 | |
|---|---|---|---|---|
| Mua bán hàng hóa | 44,4 | 37,5 | 21,2 | 25 |
| Xây dựng | 18,9 | 17,1 | 18,6 | 22 |
| Bất động sản | 1,5 | 7,1 | 26,2 | 14 |
| Logistics | 2,2 | 2,1 | 0,5 | 4 |
| Bảo hiểm | 3,3 | 6,8 | 0,9 | 1 |
| Dịch vụ khác | 29,7 | 29,4 | 32,6 | 34 |
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ Báo cáo thường niên của VIAC (2021, 2022, 2023, 2024)
Bảng 5 cho thấy, trong giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2024, tình hình giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng trọng tài thương mại tại Việt Nam cho thấy phạm vi áp dụng cơ chế này ngày càng mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Số lượng vụ việc được giải quyết bằng trọng tài trải rộng trên nhiều lĩnh vực, phản ánh mức độ đa dạng và phức tạp của các giao dịch kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Trọng tài thương mại không chỉ được sử dụng cho các tranh chấp truyền thống như mua bán hàng hóa, mà còn mở rộng sang các lĩnh vực có tính chuyên biệt cao như xây dựng, bất động sản, logistics và bảo hiểm. Cơ cấu tỷ lệ giữa các lĩnh vực tranh chấp qua các năm cho thấy sự chuyển dịch rõ rệt trong cách thức doanh nghiệp lựa chọn trọng tài như một công cụ pháp lý hiệu quả, phù hợp với đặc thù hoạt động của mình.
Về số lượng trung tâm trọng tài thương mại và số lượng trọng tài viên
Trong những năm gần đây, hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại tại Việt Nam ngày càng được chú trọng và phát triển, thể hiện qua việc mở rộng mạng lưới các trung tâm trọng tài trên phạm vi cả nước. Theo Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, tính đến năm 2024, Việt Nam có 49 trung tâm trọng tài thương mại được Bộ Tư pháp cấp phép hoạt động, phân bố chủ yếu tại các thành phố lớn và trung tâm kinh tế trọng điểm. TP. Hồ Chí Minh là địa bàn có hoạt động trọng tài thương mại sôi động nhất cả nước, tập trung số lượng lớn các trung tâm và đội ngũ trọng tài viên có trình độ chuyên môn cao. Cụ thể, số lượng trung tâm trọng tài tại TP. Hồ Chí Minh tăng từ 17 trung tâm năm 2020 lên 27 trung tâm năm 2024, thể hiện tốc độ tăng trưởng đáng kể về mặt tổ chức. Song song với đó, đội ngũ trọng tài viên cũng được củng cố và phát triển mạnh, từ 597 người năm 2020 lên 839 người năm 2024, phản ánh nhu cầu ngày càng lớn về giải quyết tranh chấp thương mại thông qua trọng tài.
THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG VIỆC LỰA CHỌN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
Thuận lợi
Nhìn chung, việc lựa chọn trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp hợp đồng đang ngày càng trở nên phổ biến trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập sâu rộng và các các giao dịch thương mại quốc tế ngày càng gia tăng về quy mô lẫn tính phức tạp. Theo kết quả khảo sát ý kiến các chuyên gia của nhóm tác giả, thì những lý do chọn trọng tài thương mại làm phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bao gồm:
Thứ nhất, do các ưu thế vượt trội của trọng tài, như: tính bảo mật, tính chung thẩm, tính trung lập, linh hoạt về thủ tục, dễ thi hành quốc tế, bảo mật hơn tòa án, thời gian giải quyết nhanh:
– Tính trung lập và phù hợp với giao dịch quốc tế: Trọng tài cho phép các bên chọn địa điểm, luật áp dụng, ngôn ngữ và cả trọng tài viên – điều mà tòa án quốc gia khó đáp ứng, nhất là khi một bên là doanh nghiệp nước ngoài.
– Tính linh hoạt về tố tụng: Các bên có thể chủ động lựa chọn trung tâm trọng tài, quy tắc tố tụng, ngôn ngữ sử dụng, địa điểm giải quyết tranh chấp cũng như danh sách trọng tài viên trong và ngoài Trung tâm. Điều này mang lại sự chủ động và linh hoạt vượt trội so với tố tụng tại tòa án. Quy tắc tố tụng trọng tài thường gọn, ít hình thức, cho phép các bên “thiết kế” thủ tục (số phiên, phản tố, bảo mật, giao nộp chứng cứ điện tử, chuyên gia…).
– Tính bảo mật: Doanh nghiệp thích trọng tài vì phiên họp và phán quyết không công khai, hạn chế ảnh hưởng uy tín. Điều này đặc biệt quan trọng với tranh chấp thương mại, M&A, dầu khí, EPC, phù hợp với nhu cầu bảo mật thông tin kinh doanh, bí mật thương mại và uy tín của doanh nghiệp, điều đặc biệt quan trọng trong môi trường kinh doanh cạnh tranh.
– Khả năng công nhận và thi hành quốc tế: Phán quyết trọng tài được thi hành rộng rãi theo Công ước New York 1958, tạo ưu thế lớn hơn so với bản án tòa án Việt Nam khi cần thi hành ở nước ngoài.
– Chuyên môn của trọng tài viên: Các bên có thể chọn người am hiểu sâu lĩnh vực (xây dựng, hàng hải, dầu khí, bảo hiểm, ngân hàng) nên chất lượng phán quyết thường phù hợp thực tiễn kinh doanh hơn; giúp giải quyết tranh chấp hiệu quả hơn, hợp lý hơn, có uy tín, tin tưởng trong mức độ nhất định, sự vô tư và khách quan.
– Tính chung thẩm: Phán quyết trọng tài là chung thẩm, chỉ bị hủy trong những trường hợp rất hạn chế, giúp doanh nghiệp dự liệu thời gian và chi phí tốt hơn.
Thứ hai, các bên chọn phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng là do: mẫu một bên gửi sang có sẵn, luật sư của các bên tư vấn lựa chọn phương thức này; các bên có hiểu biết về trọng tài và đồng thuận lựa chọn (trường hợp này ít)
Khó khăn
– Nhận thức pháp lý còn hạn chế: Nhiều doanh nghiệp chưa hiểu rõ bản chất, quy trình và hiệu lực của trọng tài, dẫn đến tâm lý e ngại hoặc sử dụng sai cách.
– Thỏa thuận trọng tài thiếu chặt chẽ: Điều khoản trọng tài trong hợp đồng thường sơ sài, mơ hồ hoặc vô hiệu, khiến tranh chấp không được giải quyết bằng trọng tài như kỳ vọng.
– Chi phí có thể cao: Với những vụ phức tạp, chi phí trọng tài, luật sư và chuyên gia có thể cao hơn so với kỳ vọng, nhất là với doanh nghiệp nhỏ.
– Thiếu kinh nghiệm tham gia tố tụng trọng tài: Doanh nghiệp thường không chuẩn bị tốt về chứng cứ, thủ tục và thiếu đội ngũ pháp lý có kinh nghiệm trọng tài.
– Chất lượng một số trung tâm trọng tài chưa đồng đều.
– Khó khăn liên quan đến xác minh, thu thập chứng cứ và thi hành phán quyết trọng tài.
– Doanh nghiệp chưa biết soạn đơn khởi kiện hoặc bản tự bảo vệ một cách tốt nhất, ngoại trừ những doanh nghiệp có sự hỗ trợ của luật sư có chuyên môn, doanh nghiệp chưa tuân thủ thời hạn mà hội đồng trọng tài đặt ra. Thủ tục trọng tài tuy linh hoạt nhưng doanh nghiệp chưa quen trong việc chỉ định trọng tài viên, chọn trung tâm trọng tài có uy tín không cao.
– Kỹ năng soạn thảo điều khoản trọng tài còn yếu, nhiều hợp đồng mẫu, hợp đồng tiếng Anh dịch sang, điều khoản chắp vá nên khi phát sinh tranh chấp lại phải “giải cứu”.
– Tâm lý coi trọng tài là đắt nên đôi khi doanh nghiệp nhỏ ngại sử dụng.
– Quản trị hồ sơ chứng cứ kém: không lưu giữ email, biên bản nghiệm thu, xác nhận công nợ, bản gốc nên khi vào trọng tài rất bị động.
– Chưa quen với tư duy “một cấp, chung thẩm”, nên nhiều doanh nghiệp muốn có “đường kháng cáo” như tòa, dẫn đến thất vọng khi bị bác yêu cầu hủy.
– Thi hành phán quyết: về nguyên tắc là khả thi, nhưng trên thực tế vẫn có độ trễ khi đối tác cố tình chống đối hoặc tài sản nằm rải rác nhiều địa phương.
– Doanh nghiệp Việt Nam chưa có ý thức chọn luật sư giỏi để soạn hợp đồng và thực hiện hợp đồng nên không kín kẽ, dễ bị vào thế bất lợi khi có tranh chấp; không chọn luật sư giỏi để tham gia tố tụng dẫn tới việc không bảo vệ tốt và đầy đủ các quyền lợi.
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Để nâng cao hiệu quả trong giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng trọng tài thương mại tại Việt Nam, theo nhóm tác giả, cần lưu ý một số vấn đề sau:
Một là, sửa đổi, bổ sung Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Sau hơn một thập kỷ áp dụng, Luật Trọng tài thương mại đã bộc lộ nhiều khoảng trống pháp lý, đặc biệt trước sự phát triển nhanh của các mô hình kinh doanh và tranh chấp phức tạp. Một số kiến nghị gồm: Làm rõ phạm vi thẩm quyền của trọng tài trong các tranh chấp hợp đồng có yếu tố công, yếu tố sở hữu trí tuệ hoặc tranh chấp giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước. Việc xác định chưa thống nhất khiến doanh nghiệp e ngại lựa chọn trọng tài; Quy định cụ thể hơn về tính độc lập và trung lập của trọng tài viên, đặc biệt với các tình huống xung đột lợi ích, nhằm nâng cao tính công bằng của quá trình tố tụng; Bổ sung cơ chế công nhận thỏa thuận trọng tài theo hình thức mở rộng, áp dụng linh hoạt đối với các giao dịch điện tử, hợp đồng qua nền tảng số, hoặc trao đổi thông tin qua mạng xã hội.
Hai là, hoàn thiện pháp luật về thi hành phán quyết trọng tài. Một trong những nguyên nhân giảm sức hút của trọng tài là việc phán quyết bị tòa án hủy hoặc việc thi hành gặp khó khăn. Cần sửa đổi theo hướng quy định rõ và giới hạn hơn các căn cứ hủy phán quyết trọng tài, tránh tình trạng tòa án lạm dụng để xem xét lại nội dung tranh chấp. Chuẩn hóa quy trình yêu cầu thi hành nhằm tránh thủ tục kéo dài bất hợp lý. Tăng chế tài đối với bên cố tình chây ỳ không thi hành phán quyết trọng tài mà không có lý do chính đáng.
Ba là, chất lượng phán quyết phụ thuộc lớn vào năng lực trọng tài viên. Cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về kỹ năng xét xử, giải thích hợp đồng, luật thương mại quốc tế. Khuyến khích thu hút luật sư, chuyên gia kinh tế, chuyên gia ngành tham gia làm trọng tài viên để xử lý tranh chấp chuyên môn cao. Nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp, xây dựng quy tắc đạo đức chuẩn mực, xử lý nghiêm các hành vi thiếu độc lập, thiếu vô tư.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong tố tụng trọng tài. Đặc biệt sau đại dịch COVID-19, mô hình tố tụng online trở thành xu thế. Các trung tâm cần áp dụng hệ thống đăng ký, nộp đơn, trao đổi tài liệu điện tử. Cho phép phiên điều trần trực tuyến, bảo đảm ghi âm – ghi hình rõ ràng. Xây dựng cơ sở dữ liệu số về phán quyết (trừ thông tin mật), góp phần nâng cao tính minh bạch và khả năng tham khảo.
Năm là, nâng cao nhận thức thống nhất của thẩm phán về trọng tài. Trong thực tiễn, cùng một loại tranh chấp, các tòa án có thể đưa ra các nhận định khác nhau về hiệu lực thỏa thuận trọng tài hoặc điều kiện hủy phán quyết. Điều này gây bất ổn và làm doanh nghiệp mất niềm tin. Do đó, cần tập huấn thống nhất cho thẩm phán về cách áp dụng Luật Trọng tài thương mại, đặc biệt liên quan đến Điều 18 (hiệu lực thỏa thuận trọng tài) và Điều 68 (căn cứ hủy phán quyết). Tăng cường trao đổi án lệ về trọng tài giữa các tòa. Rút ngắn thời gian xem xét đơn yêu cầu tạm đình chỉ, hủy phán quyết. Nâng cao trách nhiệm trong việc hỗ trợ thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi các bên yêu cầu.
Sáu là, tăng hiểu biết về lợi ích và đặc điểm của trọng tài. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn quen với tòa án, xem trọng tài như “phương án thứ hai”. Cần tổ chức chương trình đào tạo cho doanh nghiệp về ưu điểm của trọng tài như tính bảo mật, tính linh hoạt, nhanh chóng, phán quyết có giá trị chung thẩm. Phát hành các hướng dẫn mẫu về điều khoản trọng tài, giúp doanh nghiệp xây dựng điều khoản chuẩn ngay từ khi ký hợp đồng. Đa số tranh chấp phát sinh hoặc kéo dài do hợp đồng không rõ ràng. Do đó doanh nghiệp cần quy định cụ thể cơ chế giải quyết tranh chấp, lựa chọn trung tâm trọng tài, số lượng trọng tài viên, ngôn ngữ, luật áp dụng. Sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên nghiệp khi giao kết hợp đồng quan trọng hoặc hợp đồng có yếu tố nước ngoài.
(*) Đây là sản phẩm của đề tài khoa học và công nghệ cấp cơ sở năm 2025, Mã số: NTDN2025-02
Tài liệu tham khảo:
1. Hội Luật gia Việt Nam (2024). Báo cáo đánh giá tác động của chính sách Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Trọng tài thương mại.
2. Nguyễn Hữu Khánh Linh (2021). Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển quốc tế bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Xã hội và Nhân văn, 130(6C), 167-179.
3. Nguyễn Mai Linh, Hồ Thuỷ Hải (2022). Giải quyết tranh chấp mua bán và sáp nhập (mergers and acquisitions) xuyên quốc gia bằng trọng tài tại Việt Nam. Tạp chí Phát triển Khoa học & Công nghệ: Khoa học – Kinh tế – Luật và Khoa học Quản lý, số 2, 2577-2585.
4. Nguyễn Xuân Hải và Phạm Hồng Luân (2016). Nghiên cứu các nhân tố gây hạn chế lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng bằng trọng tài thương mại tại Việt Nam. Tạp chí Xây dựng, số 06, 159-164.
5. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (2020-2024). Báo cáo thường niên các năm 2020-2024.

